NGUYÊN NHÂN VÀ TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG CỦA BỆNH LOÉT DẠ DAY, TÁ TRÀNG, PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ

* Định nghĩa:

Loét dạ dày – tá tràng là 1 bệnh mạn tính, tiến triển có tính chất chu kỳ, là tình trạng mất lớp biểu mô tuyến bề mặt, đường kính ít nhất 5mm và có thể ăn sâu sát hoặc xâm lấn tới lớp cơ. Thực tế lâm sàng cho thấy đa số vết loét có đường kính từ 10 – 25mm.

 

* NGUYÊN NHÂN - BỆNH SINH :

Bệnh sinh của bệnh là Do mất cân bằng giữa yếu tố tân công ( HCL,Pepsin ) và yếu tố bảo vệ ( lớp nhầy, Bicarbonate, lớp tế bào biểu mô và dòng máu tươi cho niêm mac da dày )

Các nguyên nhân gây ra sự mất cân bằng :

- Nhiễm khuẩn chủ yếu là do xoắn khuẩn Helibacter Pylori (Hp).Hp gây phá vỡ các cầu nối liên tế bào biểu mô và tiết ra các chất ngăn cản quá trình tổng hợp chất nhầy bao phủ niêm mạc dạ dày.

- Do thuốc và thường gặp là do tác dụng không mong muốn khi dùng thuốc Corticoid và các nhóm Non-Steroid.Cac thuốc này có tính acid, và chúng có tác​ dụng phụ gây ức chế tiết nhầy ở niêm mạc dạ dày.

- Do căng thẳng thần kinh : Thường gặp ở người lao động chi óc, chịu nhiều căng thẳng về thần kinh.Nguyên nhân là do cường thần kinh phó giao cảm gây tăng tiết dịch vị và co mạch gây thiếu máu niêm mac da dày dẫn đến giảm sự tái tạo niêm mạc và tổng hợp chất nhầy.

- Do chế độ ăn uống không điều độ Ăn quá no hoặc để quá đói ,hoac hay lạm dụng các chất kích thích như rượu bia, thuốc lá; cay chua.....

 

1/ Triệu chứng lâm sàng của bệnh loét DDTT:

Thường phong phú, đa dạng, phụ thuộc vào thời kỳ bệnh tiến triển, vị trí ổ loét, có biến chứng hay không.

Triệu chứng quan trọng, chủ yếu là đau thượng vị và rối loạn tiêu hóa dai dẳng.

 

- Đau thượng vị:

+) Trong loét hành tá tràng, thường có tính chất chu kỳ lúc đói, giảm đau sau ăn và đau trở lại sau ăn 2 – 4 giờ hoặc đau vào lúc nửa đêm về sáng làm BN đang ngủ phải thức dậy. Vị trí đau thường ở thượng vị lệch phải và lan sau lưng. Cường độ đau thường âm ỉ. Cảm giác đau như rát bỏng, cồn cào. Cũng có BN đau nhiều phải ôm lấy bụng. Một đợt đau thường kéo dài hàng tuần hoặc hàng tháng. Sau đó là 1 thời gian không đau cho đến 1 đợt tái phát tiếp theo.

+) Trong loét dạ dày cũng có tính chất chu kỳ nhưng không rõ nét bằng đau trong loét hành tá tràng. Đau thường xuất hiện sau ăn 15 – 30 phút và kéo dài cho đến khi thức ăn trong dạ dày được tiêu hóa hết hoặc nôn ra ngoài. Chính vì vậy BN loét dạ dày thường ngại ăn, ăn ít. Vị trí đau thường ở thượng vị lệch trái, cũng có trường hợp lệch phải. Cảm giác đau thường cồn cào, nóng rát, âm ỉ.

- Nôn và buồn nôn kể cả lúc đói. Nếu nôn ra thức ăn cũ cần kiểm tra xem có hẹp môn vị hay không.

- Ợ hơi, ợ nóng hay gặp trong loét dạ dày, ợ chua hay gặp trong loét hành tá tràng nhất là trong đợt tiến triển.

- Rối loạn TKTV: Bụng chướng hơi, đau dọc khung đại tràng, táo bón.Biểu hiện trong loét dạ dày ít hơn trong loét hành tá tràng.

 

*Thăm khám bụng:

-Trong cơn đau: Có thể thấy co cứng cơ vùng thượng vị (loét hành tá tràng hơi lệch về bên phải). Tăng cảm giác đau khi sờ nắn.

- Ngoài cơn đau: Thăm khám không thấy gì đặc biệt

 

2 / Phương pháp điều trị bệnh loét dạ dày– tá tràng:

I. Nội khoa:

1. Thuốc:

a) Kháng sinh:

- Có tới 50% loét dạ dày và 90% loét hành tá tràng có HP (+).

- Chỉ định: Xét nghiệm tìm HP (+).

- Thuốc: Thường dùng 1 số loại thuốc sau (liều dùng uống cho 24h):

+) Amoxicilin 1 – 2g.

+) Metronidazol (Flagyl, Klion hay Tinidazol…) 1g.

+) Clarithromycin 1g.

+) Tetracyclin 1g.

- Có thể phối hợp:

+) Amoxiclin + Metronidazol (Flagyl, Klion hay Tinidazol…) hoặc

+) Amoxiclin + Clarithromycin hoặc

+) Metronidazol (Flagyl, Klion hay Tinidazol…) + Clarithromycin.

 

- Lưu ý:

+) Thuốc phải đủ liều lượng, đủ thời gian (7 ngày) và phối hợp kháng sinh để chống kháng thuốc của HP.

+) Nên phối hợp Bismuth hoặc nhóm thuốc ức chế bơm Proton thì hiệu quả diệt HP sẽ cao hơn.

b) Thuốc tác động lên hệ thống thần kinh trung ương và thực vật làm giảm co thắt, đỡ đau bụng và giảm tiết viêm cầu thận clohydric (HCl):

 

- Ức chế TKTƯ:

+) Diazepam 10mg/24h (uống hoặc tiêm).

+) Sulpirit (Dogmatil) viên 50mg, 1 – 3 viên/24h trong 3 tuần/1 tháng.

- Ức chế trung gian dẫn truyền với acetylcholin: Có thể dùng 1 trong các loại thuốc sau:

+) Atropin sulphat 0,25mg: 2 – 4 ống/24h, tiêm dưới da.

+) Buscopan 20mg: 2 – 4 ống/24h, tiêm bắp.

+) Papaverin 40mg: 4 viên/24h, uống.

 

c) Thuốc làm giảm HCl:

 

- Trung hòa HCl đã được tiết vào lòng dạ dày: Đó là các thuốc dạng kiềm, nên uống vào lúc dịch dạ dày được tiết ra nhiều nhất (trước hoặc sau ăn 30p – 1h). Hiện nay đang dùng Al(OH)3hoặc Mg(OH)2 phối hợp với nhau như Topaal, Malox, Gastropulgit…

Nhiều tác giả khuyên không nên dùng muối có calci hoặc natri nhất là Natricarbonat vì calci, natri dễ hấp thu gây rối loạn chuyển hóa, đặc biệt Natricarbonat gây kiềm máu và tăng tiết toan thứ phát khi dừng thuốc. Tuy vậy, nếu có tinh trạng rát bỏng nhiều hoặc trào ngược tá tràng dạ dày có thể dùng.

 

- Thuốc ức chế tiết HCl:

+) Ức chế receptor H2 – histamin: Là những chất đối kháng với histamin có tác dụng ức chế hoạt tính của histamin ở thụ thể H2.

. Thế hệ 1: Cimetidine, Tagamet…viên 200mg, liều 800mg/24.

. Thế hệ 2: Ranitidine (Zantac, Azantac…) viên 150mg, ống 50mg, liều 150mg/24h.

. Thế hệ 3: Nizatidine, liều 300mg/24h.

. Thế hệ 4: Famotidine (Fatidin, Servipep…) liều 40mg/24

Điều trị liều như trên, hàng ngày chia 2 lần, uống vào 8h sáng và trước khi đi ngủ buổi tối, 4 – 6 tuần.

+) Ức chế bơm proton: Omeprazol (Losec, Lomac, Lokit, Lanzoprazol…) có tác dụng ức chế men H+ - K+ - ATPase trên bề mặt của tế bào thành dạ dày, do đó là thuốc ức chế tiết HCl dịch vị mạnh nhất hiện nay.

Liều lượng 20 – 40mg/24h (sau 7 ngày có tới 80% BN lành vết loét), thời gian dùng từ 4 – 6 tuần.

 

d) Tăng cường yếu tố bảo vệ và giúp ổ loét liền sẹo nhanh:

 

* Bảo vệ niêm mạc:

- Thường dùng Al(OH)3 và Mg(OH)2 phối hợp dưới dạng huyền dịch như Topaal, Gastrogel…, hoặc chỉ có Al(OH)3 như Sucralfat có tác dụng ngăn ảnh hưởng của HCl lên màng nhày của niêm mạc dạ dày rất hiệu quả, liều dùng từ 2 – 4 viên/ngày, nhai (nếu là viên) lúc đói, thời gian dùng từ 4 – 6 tuần, không nên dùng kéo dài dễ gây quá tải muối.

 

- Bismuth: Là thuốc tốt với tính kiềm, có khả năng bảo vệ niêm mạc và diệt HP. Trước kia dùng bismuth vô cơ, hiện nay không dùng nữa mà dùng bismuth hữu cơ nên hạn chế được tác dụng phụ. Biệt dược Trymo viên 120mg, liều lượng 480mg/24, uống sau khi ăn 1h, trong 28 ngày.

 

+) Ngoài ra còn Selbex, Pepsan…cũng có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày tốt, giúp ổ loét liền sẹo nhanh.

 

* Đẩy nhanh quá trình liền sẹo:

 

- Prostaglandin: Có tác dụng giảm tiết HCl, tăng sức đề kháng của màng nhày, kích thích phục hồi niêm mạc và tăng lưu lượng máu đến nuôi dưỡng niêm mạc dạ dày. Loại E1 (Enprostil), E2 (Misoprostol), liều lượng 40mg x 3 lần/ngày.

- Ngoài ra còn dùng vitamin nhóm B, U, PP…hoặc tia laser chiếu thẳng vào ổ loét trong khi nội soi…

 

2. Một số biện pháp khác:

- Có chế độ ăn uống hợp lý, điều độ, hạn chế rượu bia, chua cay, cà phê, thuốc lá…

- Sinh hoạt, làm việc hợp lý, tránh stress.

- Điều trị bệnh phải kiên trì, theo nguyên tắc: Đủ thuốc, đủ liều lượng, đủ thời gian, chú ý đến tính cá thể của người bệnh.

- Chú ý khi dùng thuốc điều trị bệnh khác nhất là nhóm hạ sốt, giảm đau, chống viêm dễ gây chảy máu ổ loét.

- Với loét dạ dày, nên khuyên người bệnh nội soi dạ dày định kỳ để phát hiện sớm biến chứng ung thư hóa.

 

II. Ngoại khoa:

 

- Hiện này vấn đề điều trị ngoại khoa loét DDTT rất hạn chế, vì hiệu quả điều trị nội khoa ngày càng cao và những biến chứng sau mổ cắt dạ dày.

- Chỉ định mổ tuyệt đối khi biến chứng thủng ổ loét, hẹp môn vị, ung thư hóa.

- Với biến chứng chảy máu ổ loét, chỉ mổ cấp cứu khi điều trị nội khoa đúng phương pháp mà không cầm được máu ,nhưng nếu có điều kiện cầm máu nội soi thì cũng hạn chế được mổ cấp cứu.

Thông báo